Thị trường nông sản ngày 03/02/2026 ghi nhận hoạt động mua ròng mạnh của quỹ đầu cơ ở lúa mì, đậu tương và ngô, cùng diễn biến đáng chú ý về xuất khẩu, thời tiết và sản xuất ethanol.
Lúa mì: Quỹ đầu cơ tăng mua, xuất khẩu Mỹ duy trì tích cực
Các quỹ đầu cơ mua khoảng 16.000 hợp đồng lúa mì trên sàn CBOT, kéo vị thế bán ròng xuống còn 95.000 hợp đồng. Với KC, họ mua gần 3.000 hợp đồng, giảm bán ròng còn 10.000 hợp đồng.
Tuần này khu vực đồng bằng Hoa Kỳ gần như không có mưa, nhưng tuần thứ 2 trong dự báo lại nghiêng về lượng mưa cao hơn bình thường, có thể giúp giảm bớt lo ngại khô hạn nếu đúng như dự báo.
Đài Loan được cho là đã mua hơn 106.000 tấn lúa mì xay xát của Mỹ, giao mùa xuân.
Kiểm định xuất khẩu lúa mì hàng tuần của Hoa Kỳ đạt 12 triệu giạ, đúng kỳ vọng nhưng thấp hơn mức 16 triệu giạ/tuần cần để đạt dự báo USDA. Tuy nhiên, lũy kế đạt 613 triệu giạ, tăng 19% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức USDA đang kỳ vọng (+9%).
IKAR cho biết giá xuất khẩu lúa mì Nga kết thúc tuần trước ở 231 USD/tấn FOB, tăng 2 USD/tấn so với tuần liền trước.
Đậu tương: Brazil nâng mạnh dự báo sản lượng, dòng tiền quỹ đảo chiều
Tại Nam Mỹ, Brazil đang ở giai đoạn đầu của vụ thu hoạch đậu tương được dự báo kỷ lục. Giới giao dịch kỳ vọng Trung Quốc sẽ chuyển sang mua chủ yếu từ Brazil trong những tháng tới sau làn sóng mua đậu tương Mỹ gần đây.
Hai tổ chức StoneX và Celeres đã nâng dự báo sản lượng đậu tương Brazil niên vụ 2025/26 vào thứ Hai, do năng suất cao hơn dự kiến ở quốc gia sản xuất và xuất khẩu đậu tương lớn nhất thế giới: StoneX: 181,62 triệu tấn, tăng từ 177,61 triệu tấn trước đó (tăng 7,6% so với cùng kỳ). Celeres: 181,3 triệu tấn, tăng từ 177,2 triệu tấn trong dự báo trước.
Biên lợi nhuận ép dầu giao ngay tại Hoa Kỳ cải thiện 0,025 USD/giạ lên 1,73 USD/giạ, trong khi tỷ trọng giá trị sản phẩm của dầu đậu giảm về 47,5%.
Thứ Sáu tới, EIA sẽ công bố dữ liệu tháng về biodiesel và renewable diesel (RD) gồm sản lượng, công suất và mức sử dụng nguyên liệu.
Các quỹ đầu cơ mua ròng hơn 7.000 hợp đồng đậu tương, gần 39.000 hợp đồng dầu đậu, và 6.400 hợp đồng khô đậu. Đảo vị thế dầu đậu sang mua ròng, lên mua ròng 13.000 hợp đồng đồng thời tăng mua ròng đậu tương lên hơn 17.000 hợp đồng. Bán ròng khô đậu giảm còn 32.000 hợp đồng.
Kiểm định xuất khẩu hàng tuần của Hoa Kỳ đạt 48 triệu giạ, nằm ở đầu trên vùng kỳ vọng và cao hơn nhiều so với mức 25 triệu giạ/tuần cần thiết để đạt dự báo USDA. Tuy vậy, lũy kế từ đầu niên vụ đạt 808 triệu giạ, giảm 36% so với cùng kỳ năm trước, trong khi USDA đang dự báo giảm 16%. Trong tuần, Trung Quốc nhận 27 triệu giạ, Mexico nhận 5 triệu giạ.
Về ép dầu, số liệu Census crush tháng 12/2025 đạt gần 230 triệu giạ, đúng kỳ vọng và là mức cao thứ 2 lịch sử, chỉ thấp hơn 236 triệu giạ của tháng 10/2025. Lũy kế 4 tháng đầu niên vụ 2025/26 đạt 892 triệu giạ, tăng 7,4% so với cùng kỳ, cao hơn tốc độ tăng mà USDA đang dự báo (+5%). Để đạt mục tiêu USDA, sản lượng ép dầu giai đoạn tháng 1–tháng 8 cần đạt 1,678 tỷ giạ, so với 1,615 tỷ giạ cùng kỳ năm trước.
Ngô: Tăng sản xuất ethanol, xuất khẩu Mỹ phân hóa
Tại Brazil, AgRural ước tính đến thứ Năm 29/1, nông dân đã gieo trồng 13% vụ ngô vụ 2 (safrinha), trong khi thu hoạch vụ 1 đạt 10%.
Ở Mỹ, tồn đàn bò tính đến 1/1 giảm 0,4% so với cùng kỳ xuống 86,2 triệu con, mức thấp nhất kể từ năm 1951.
Về xuất khẩu ngô Mỹ, kiểm định xuất khẩu đạt 45 triệu giạ, phù hợp kỳ vọng nhưng là mức thấp nhất từ đầu niên vụ và thấp hơn mức 61 triệu giạ/tuần cần thiết để đạt dự báo của USDA. Lũy kế từ đầu niên vụ, kiểm định đạt 1,284 tỷ giạ, tăng 50% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều so với dự báo USDA chỉ tăng 12%. Trong tuần, Nhật Bản mua 17,5 triệu giạ và Mexico mua 10 triệu giạ.
Tuần trước, các quỹ đầu cơ mua ròng hơn 9.000 hợp đồng, kéo vị thế bán ròng giảm còn 72.000 hợp đồng.
Lượng ngô dùng để sản xuất ethanol trong tháng 12/2025 đạt hơn 488 triệu giạ, cao hơn dự đoán trung bình của thị trường (475 triệu giạ) và nằm ở đầu trên của vùng ước tính. Mức sử dụng này tăng 1,8% so với cùng kỳ, đưa lũy kế 4 tháng đầu niên vụ 2025/26 lên 1,871 tỷ giạ, tăng chưa đến 1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn so với ước tính USDA là tăng 3%.