Thị trường nông sản ngày 6/2/2026 ghi nhận lúa mì Mỹ tiếp tục đối mặt rủi ro hạn hán, đậu tương tăng mạnh nhờ kỳ vọng Trung Quốc mua thêm dù yếu tố cơ bản còn tranh cãi, trong khi ngô chịu cạnh tranh từ Nam Mỹ.

Lúa mì
Các dự báo 6–10 ngày và 8–14 ngày tiếp tục cho thấy lượng mưa cao hơn trung bình tại các vùng lúa mì vụ đông của Hoa Kỳ tuy nhiên đến nay mưa thực tế vẫn chưa cải thiện đáng kể.
Doanh số xuất khẩu tuần trước của Hoa Kỳ đạt 14 triệu giạ phù hợp kỳ vọng, đưa cam kết lũy kế lên 802 triệu giạ, tăng 18% so với cùng kỳ, cao hơn dự báo USDA (+9%). Mức cam kết hiện đạt 89% dự báo của USDA, vượt trung bình lịch sử 83%.
Đáng chú ý, tỷ lệ diện tích lúa mì vụ đông của Mỹ trong điều kiện hạn hán tăng thêm 2% lên 43%, tiệm cận mức cao nhất 52 tuần là 45%, cho thấy rủi ro thời tiết vẫn còn đáng lưu ý.
Triển vọng lúa mì vụ đông của Nga hiện được đánh giá khá tích cực, khi 97% diện tích cây trồng đang ở tình trạng tốt, cao hơn năm ngoái. Tuy nhiên, chưa thể kết luận sớm về năng suất. Rủi ro chính nằm trong giai đoạn tháng 3–5, khi thời tiết biến động có thể tác động mạnh đến sinh trưởng. Đáng lưu ý, miền Nam Nga đã hai năm liên tiếp hứng chịu các đợt lạnh bất thường vào tháng 5, cho thấy rủi ro thời tiết cuối vụ vẫn hiện hữu
Đậu tương
Giá đậu tương tăng gần 2% vào thứ Năm, sau khi Donald Trump cho biết Trung Quốc đang xem xét mua thêm sau cuộc điện đàm với Tập Cận Bình. Ông Trump cho biết Trung Quốc có thể nâng lượng mua lên 20 triệu tấn trong mùa vụ hiện tại và 25 triệu tấn trong mùa vụ kế tiếp.
Tuy nhiên, về logic thị trường, khả năng Trung Quốc mua thêm lượng lớn đậu tương Mỹ là không hấp dẫn về mặt thương mại, do chênh lệch giá giữa Mỹ và Brazil ngày càng nới rộng ngay trong mùa xuất khẩu cao điểm của Brazil. Hiện đậu tương Mỹ đắt hơn khoảng 50 USD/tấn FOB, khiến Trung Quốc có thể phải trả thêm tới 400 triệu USD nếu mua thêm 8 triệu tấn từ Mỹ thay vì từ Brazil.
Dù vậy, các nhà phân tích cho rằng Bắc Kinh có thể chỉ đạo các doanh nghiệp nhà nước mua hàng vì mục tiêu chính trị, nhằm tạo không khí thuận lợi cho chuyến thăm của ông Trump và đổi lấy các nhượng bộ khác từ Washington. Thực tế, hai tập đoàn nhà nước Sinograin và COFCO đã mua khoảng 12 triệu tấn đậu tương Mỹ kể từ tháng 10, với chi phí cao hơn gần 100 triệu USD so với mua từ Brazil.
Ở chiều ngược lại, khối tư nhân gần như đứng ngoài cuộc. Các nhà máy ép dầu tư nhân Trung Quốc không mua đậu tương Mỹ do thuế nhập khẩu 13% (so với 3% đối với hàng Brazil) và biên lợi nhuận nghiền ép âm kéo dài. Trung Quốc thậm chí đã phải đấu giá đậu tương dự trữ để giải phóng kho chứa cho các lô hàng Mỹ, và nhiều khả năng sẽ còn tiếp diễn sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán.
Doanh số xuất khẩu đậu tương hàng tuần của Hoa Kỳ đạt 16 triệu giạ, thấp hơn kỳ vọng. Cam kết ở mức 1,260 tỷ giạ, giảm 20% so với cùng kỳ, so với dự báo USDA giảm 16%. Bán sang Trung Quốc đạt 233 nghìn tấn, nâng tổng bán cho Trung Quốc lên 9,9 triệu tấn, cùng 3,1 triệu tấn thuộc nhóm “không xác định”. Giao hàng sang Trung Quốc đạt hơn 4,3 triệu tấn.
Doanh số xuất khẩu Khô đậu bán 380 nghìn tấn, đưa cam kết lũy kế lên 10,651 triệu tấn, tăng 9% so với cùng kỳ, cao hơn dự báo USDA +5%. Dầu đậu tương có cam kết 742 triệu pound, giảm 50% so với cùng kỳ, phù hợp dự báo USDA.
Xuất khẩu đậu tương Brazil tháng 01/2026 đạt 1,88 triệu tấn, so với 1,07 triệu tấn cùng kỳ năm.
Hoạt động thu hoạch đậu tương tại Brazil đang diễn đúng tiến độ, nhờ điều kiện mùa vụ thuận lợi. Dự báo sản lượng niên vụ 2025/26 được giữ nguyên ở mức 178,7 triệu tấn (biên 175,1–183,6 triệu tấn), không thay đổi so với bản cập nhật trước. Con số này cao hơn nhẹ so với ước tính 178 triệu tấn của USDA, và cũng cao hơn ước tính 176,1 triệu tấn của CONAB.
Trong hai tuần gần đây, thời tiết có dấu hiệu biến động, với nhiệt độ cao hơn trung bình tại khu vực Trung Tây và phía bắc Đông Nam, trong khi miền Nam mát hơn. Lượng mưa phân bố khá rộng (20–150 mm) nhưng phần lớn thấp hơn mức trung bình, ngoại trừ một số khu vực phía đông.
Hiện tại, thu hoạch tại các bang trọng điểm như Mato Grosso và Mato Grosso do Sul vẫn bám sát kế hoạch, song nguy cơ chậm lại vào giữa tháng 2 đang gia tăng do dự báo mưa lớn trong tuần tới và tuần kế tiếp.
Nhập khẩu dầu hướng dương của Ấn Độ được dự báo sẽ giảm xuống mức thấp nhất trong 4 năm ở niên vụ 2025/26, do giá cao hơn đáng kể so với các loại dầu thay thế. Trước chênh lệch giá lớn, người mua đang chuyển sang dầu cọ và dầu đậu nành rẻ hơn. Hiện dầu hướng dương giao Ấn Độ có giá khoảng 1.420 USD/tấn, cao hơn nhiều so với dầu cọ (1.165 USD/tấn) và dầu đậu nành (1.255 USD/tấn).
Indonesia dự kiến nâng tỷ lệ pha trộn bio-ethanol trong xăng lên 10% vào năm 2028, chậm hơn 1 năm so với kế hoạch trước đó do nguồn cung ethanol chưa đáp ứng. Theo Bộ Năng lượng Indonesia, mục tiêu trung gian là 5% vào năm 2025, nhưng nước này không đạt được vì thiếu nguyên liệu.
Chính phủ Indonesia đang thúc đẩy nhiên liệu sinh học từ dầu cọ và mía đường nhằm giảm nhập khẩu xăng dầu và tăng tự chủ năng lượng. Đến năm 2028, sản lượng bio-ethanol dự kiến đạt 0,80 triệu m3, trong khi nhu cầu xăng dầu quốc gia khoảng 39,9 triệu m3, cho thấy dư địa tăng cầu ethanol còn lớn.
Ngô
Báo cáo EIA cho thấy sản lượng ethanol tuần trước đạt 281 triệu gallon, thấp nhất trong gần 2 năm, do thời tiết giá lạnh ở Trung Tây Mỹ.
Doanh số xuất khẩu ngô hàng tuần của Hoa Kỳ đạt 41 triệu giạ, ở mức thấp trong vùng kỳ vọng. Tính từ đầu niên vụ, cam kết xuất khẩu đạt 2,312 tỷ giạ, tăng 31% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều so với dự báo của USDA (+12%). Mức cam kết hiện tương đương 72% dự báo của USDA, vượt trung bình lịch sử 63%. Nhật Bản và Mexico là các khách mua đáng chú ý, mỗi nước gần 10 triệu giạ.
Dù tiến độ xuất khẩu nhìn chung tích cực, khả năng USDA giữ nguyên dự báo trong báo cáo WASDE tháng này ở mức 3,2 tỷ giạ.
Trong khi đó, giá chào FOB giảm từ Argentina đang bắt đầu cạnh tranh và làm suy yếu nhu cầu đối với ngô Mỹ.
Xuất khẩu ngô Brazil tháng 1/2026 đạt 4,25 triệu tấn, tăng 18% so với cùng kỳ năm trước.
Điều kiện thời tiết thuận lợi hơn đang nâng triển vọng sản lượng ngô Brazil niên vụ 2025/26 và hỗ trợ mạnh cho việc gieo trồng vụ hai. LSEG giữ ước tính sản lượng ở mức 139,0 triệu tấn (biên 132,9–145,2 triệu tấn), tăng nhẹ 0,6% so với bản cập nhật gần nhất.
Trong hai tuần qua, các vùng trồng ngô vụ một chủ chốt ghi nhận thời tiết mát và/hoặc ẩm hơn, giúp độ ẩm đất cải thiện rõ tại Minas Gerais, Goiás, Bahia và Mato Grosso. Dù một số khu vực phía Nam có mưa dưới trung bình, nhiệt độ ôn hòa vẫn hỗ trợ sinh trưởng. Chỉ số NDVI từ ảnh vệ tinh duy trì ở mức cao, phản ánh tình trạng cây trồng tích cực.
Dự báo cho thấy hai tuần tới có khả năng nóng và khô hơn tại miền Nam và Mato Grosso do Sul, với thiếu hụt mưa tới 60 mm, có thể ảnh hưởng giai đoạn chín của ngô vụ một. Ngược lại, Trung Tây, Đông Nam, Đông Bắc và miền Bắc dự kiến mát và ẩm hơn, tiếp tục cải thiện ẩm đất và điều kiện canh tác.
Theo CONAB, đến 31/1, gieo trồng ngô vụ hai đạt 12% riêng Mato Grosso đạt 22,1%, tăng mạnh so với 6,2% cùng kỳ năm ngoái nhờ thu hoạch đậu tương sớm. Tiến độ gieo nhanh giúp tăng khả năng tiếp cận nước, giảm rủi ro hạn và nâng tiềm năng năng suất cho vụ chính.
Điều kiện thời tiết nóng và khô hạn trong tháng 1 đã làm suy giảm triển vọng sản lượng ngô Argentina niên vụ 2025/26, buộc LSEG hạ dự báo 3% xuống còn 56,0 triệu tấn (biên 51,8–60,5 triệu tấn). Nắng nóng kéo dài cùng thiếu hụt mưa 40–80 mm tại vùng Pampas đã khiến độ ẩm đất giảm mạnh, ảnh hưởng tiêu cực đến các khu vực trồng ngô trọng điểm.