Thị trường hồ tiêu ngày 17/08 duy trì đà đi ngang bình ổn tại cả thị trường nội địa và quốc tế. Báo cáo mới nhất cho thấy Việt Nam hiện chiếm 20,3% tổng lượng hồ tiêu xuất khẩu của Brazil, khẳng định vị thế trung tâm thương mại lớn.

Giá hồ tiêu trong nước
Theo dữ liệu ghi nhận từ bảng giá, bước sang phiên giao dịch đầu tuần thứ Hai ngày 17/08, thị trường hồ tiêu nội địa tiếp tục nối dài trạng thái đi ngang lặng sóng. Mặt bằng giá thu mua trung bình trên phạm vi toàn quốc neo chắc ở mốc 137.000 đồng/kg.
Tại khu vực Tây Nguyên, biểu giá giao dịch tại các tỉnh trọng điểm đồng loạt chững lại ở mức niêm yết quen thuộc. Thủ phủ Đắk Nông tiếp tục giữ vững vị trí dẫn đầu cả nước với giá thu mua đạt 139.000 đồng/kg. Tương tự, tỉnh Đắk Lắk duy trì giao dịch ở ngưỡng 138.000 đồng/kg, trong khi thương lái tại Gia Lai tiếp tục thu mua ổn định ở mốc 136.000 đồng/kg.
Thị trường hồ tiêu tại khu vực Đông Nam Bộ cũng duy trì trạng thái bình ổn tương tự. Cả hai địa bàn Bình Phước và Bà Rịa – Vũng Tàu cùng giữ nguyên mức giá thu mua niêm yết ở ngưỡng 136.000 đồng/kg.
Diễn biến đi ngang liên tiếp trong phiên 17/08 cho thấy thị trường đang thiết lập vùng nền giá tích lũy rất bền vững xung quanh cột mốc 137.000 đồng/kg. Việc mặt bằng giá tiếp tục duy trì sự cân bằng giúp củng cố tâm lý vững vàng cho các đại lý và hộ nông dân trong khởi đầu tuần mới.
Giá hồ tiêu quốc tế
Theo dữ liệu cập nhật mới nhất từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), thị trường hồ tiêu thế giới trong phiên giao dịch khởi đầu tuần mới tiếp tục duy trì trạng thái đi ngang bình ổn, nối dài đà giữ giá từ phiên chiều ngày 14/08 tại hầu hết các quốc gia sản xuất chính.
Tại khu vực Đông Nam Á, giá hồ tiêu Indonesia tiếp tục duy trì đà đi ngang vững chắc. Cụ thể, tiêu đen Lampung của quốc gia này ổn định ở mốc 6.851 USD/tấn sau khi giảm nhẹ ngày 14/8. Tương tự, dòng tiêu trắng Muntok vẫn giữ nguyên ở ngưỡng 9.380 USD/tấn sau phiên giảm nhẹ vào thứ Sáu. Trong khi đó, sàn giao dịch Malaysia ghi nhận nhịp lặng sóng kéo dài với tiêu đen Kuching ASTA giao dịch ở mức 9.300 USD/tấn và tiêu trắng Malaysia ASTA đứng vững tại mốc 12.200 USD/tấn.
Đối với khu vực Nam Mỹ, hạt tiêu đen xuất khẩu dòng ASTA 570 của Brazil nối dài chuỗi ngày bình ổn, tiếp tục giữ cố định ở ngưỡng 5.900 USD/tấn.
Tại Việt Nam, tiêu đen loại 500 g/l duy trì ở mốc 5.990 USD/tấn (sau khi tăng mạnh 20 USD/tấn ngày 14/8), tiêu đen loại 550 g/l neo chắc tại mức 6.050 USD/tấn, và dòng tiêu trắng Việt Nam ASTA giữ vững mốc chào bán 8.400 USD/tấn.
Trạng thái giữ giá không đổi trên toàn cầu phản ánh lực cung – cầu trên sàn quốc tế đang ở điểm cân bằng tích cực. Việc giá xuất khẩu của Việt Nam và các nước sản xuất lớn tiếp tục neo giữ vững vàng trên vùng giá cao tạo nguồn lực củng cố niềm tin, giúp thị trường hồ tiêu thu mua nội địa duy trì nền giá tích lũy chắc chắn trong tuần mới.
Cập nhật thông tin hồ tiêu
Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu và Nghiên cứu Amazon (Fapespa) vừa công bố nghiên cứu mới mang tên “Bối cảnh kinh tế và môi trường của ngành hồ tiêu năm 2026”. Báo cáo tập trung phân tích tiến trình phát triển của ngành hồ tiêu Brazil, trọng tâm là bang Pará, dựa trên các chỉ số then chốt như sản lượng, tỷ trọng trong tổng nguồn cung quốc gia, năng suất cùng giá trị sản xuất thực tế.
Hồ tiêu được xác định là mặt hàng nông sản mang tính chất hàng hóa toàn cầu, sở hữu quy mô xuất khẩu lớn và giao dịch sôi động trên thị trường quốc tế.
Hiện tại, Brazil khẳng định vị thế là một trong những cường quốc sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu hàng đầu thế giới. Từ mốc 59,4 nghìn tấn vào năm 1988, sản lượng hồ tiêu của quốc gia này đã bứt phá lên 124,9 nghìn tấn vào năm 2024, tương ứng mức tăng trưởng 110,3%.
Báo cáo chính thức ghi nhận Pará tiếp tục giữ vững vị trí bang sản xuất hồ tiêu lớn thứ hai tại Brazil với sản lượng đạt 41,6 nghìn tấn, đóng góp 33,3% vào tổng sản lượng toàn quốc. Đáng chú ý, Pará là địa phương duy nhất trong nhóm 5 bang trồng tiêu lớn nhất đạt mức tăng trưởng dương trong năm 2024, với sản lượng tăng 9,1% so với năm 2023.
Thành tích của Pará chỉ xếp sau Espírito Santo – bang hiện chiếm tới 58,8% tổng sản lượng hồ tiêu của toàn Brazil.
Xét trong giai đoạn 1994–2024, giá trị sản xuất hồ tiêu của Brazil liên tục duy trì xu hướng tăng trưởng dài hạn. Nếu như năm 1994, quy mô giá trị sản xuất chỉ đạt 403,7 triệu real thì đến năm 2024 đã vọt lên khoảng 3,6 tỷ real. Rõ ràng, sau 30 năm, chỉ số này đã tăng tới 810,2%, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 11,8%/năm.
Đặc biệt trong năm 2024, giá trị sản xuất đã tăng tới 107,4% so với năm 2023, vươn lên đỉnh cao nhất trong toàn bộ chuỗi dữ liệu lịch sử. Tốc độ tăng trưởng đột biến này chủ yếu xuất phát từ đà tăng giá hồ tiêu trên thị trường quốc tế, kết hợp với biến động thời tiết ảnh hưởng tới nguồn cung và lực cầu duy trì ở mức cao, từ đó gia tăng mạnh mẽ giá trị kinh tế cho toàn ngành.
Trong giai đoạn 2023 – 2024, giá trị sản xuất hồ tiêu tiếp tục thể hiện sự tập trung cao độ. Nhóm 5 bang sản xuất hàng đầu đã nắm giữ hơn 99% tổng giá trị sản xuất hồ tiêu của cả nước. Trong đó, Pará giữ vị trí thứ hai toàn quốc năm 2024 khi đóng góp 34% tổng giá trị sản xuất, xếp sau bang dẫn đầu là Espírito Santo.
Về khía cạnh giá xuất khẩu, cột mốc kỷ lục cao nhất lịch sử được xác lập trong giai đoạn 2011 – 2016, khi mức giá chào bán vọt lên khoảng 9,0 USD/kg.
Đến năm 2025, giá xuất khẩu hồ tiêu tại bang Pará ghi nhận mức 6,7 USD/kg, vượt trội hơn so với mức trung bình 6,1 USD/kg tại các bang còn lại của Brazil.
Danh sách thị trường xuất khẩu chủ lực của Brazil năm 2025 ghi nhận Đức đứng đầu với 3.734,0 tấn (chiếm 23,5% tổng lượng xuất khẩu); Việt Nam xếp thứ hai với 3.226,1 tấn (chiếm 20,3%); và Hà Lan giữ vị trí thứ ba với 1.751,0 tấn (chiếm 11,0%).
Phân theo khu vực địa lý, châu Âu duy trì vị thế là thị trường nhập khẩu hồ tiêu lớn nhất của Brazil trong năm 2025 với khối lượng đạt 7.676,7 tấn, chiếm 40,6% tổng lượng xuất khẩu và tăng 3,8% so với năm trước.
Song song với vai trò nòng cốt của thị trường châu Âu, châu Phi đang vươn lên như một điểm đến xuất khẩu đầy tiềm năng. Trong năm 2025, Brazil đã xuất sang châu Phi 1.068,1 tấn hồ tiêu, chiếm 5,7% tổng thị phần xuất khẩu và đạt mức tăng trưởng ấn tượng 37,8% so với cùng kỳ năm trước.