Phiên giao dịch hồ tiêu hôm nay (10/6) ghi nhận diễn biến trái chiều sắc nét giữa thị trường trong nước và quốc tế. Trong khi giá thu mua nội địa thiết lập thế đi ngang bình ổn với mức trung bình 139.000 đồng/kg, Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) lại báo cáo làn sóng điều chỉnh giảm mạnh tại cả Indonesia và Brazil do áp lực xả hàng giữa tuần.

Giá hồ tiêu trong nước
Theo số liệu khảo sát mới nhất, bước vào phiên giao dịch ngày 10/6, thị trường hồ tiêu nội địa đã nhanh chóng thiết lập trạng thái đi ngang bình ổn vững chắc sau nhịp khởi sắc nhẹ vào ngày hôm qua. Mức giá thu mua trung bình trên phạm vi toàn quốc tiếp tục được bảo toàn vững chắc ở ngưỡng 139.000 đồng/kg, không ghi nhận bất kỳ sự thay đổi hay điều chỉnh nào so với phiên liền trước.
Tại khu vực Tây Nguyên, thương lái tại hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông tiếp tục giữ nguyên mức giá thu mua cao nhất thị trường là 140.000 đồng/kg. Song song với đó, tỉnh Gia Lai cũng neo yên vững chắc, giữ nguyên mốc giao dịch ổn định quanh ngưỡng 138.000 đồng/kg.
Tại khu vực Đông Nam Bộ, giá tiêu tại địa bàn tỉnh Bình Phước ổn định ở mốc 138.000 đồng/kg. Đối với tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, vẫn tiếp tục duy trì hoạt động mua bán quanh ngưỡng 139.000 đồng/kg.
Việc toàn bộ các vùng trồng đồng loạt đi ngang ngay sau phiên điều chỉnh tăng nhẹ cho thấy thị trường đang tích lũy nền giá mới rất chặt chẽ. Cả doanh nghiệp đầu mối lẫn nhà vườn đều đang giữ tâm lý thận trọng, tạm thời dừng chân để nghe ngóng và thăm dò thêm các tín hiệu điều tiết cung cầu vĩ mô tiếp theo từ thị trường quốc tế.
Giá hồ tiêu quốc tế
Thị trường hồ tiêu thế giới hôm nay (10/6) đã bẻ lái đi xuống khi chứng kiến làn sóng điều chỉnh giảm tại một số khu vực xuất khẩu chủ lực, chấm dứt chuỗi ngày đi ngang bình ổn trước đó. Theo báo cáo giá niêm yết mới nhất từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), áp lực bán tháo và xả hàng từ các quốc gia khu vực Nam Mỹ và Đông Nam Á đang có dấu hiệu gia tăng đáng kể.
Cụ thể, tại thị trường Indonesia, dòng tiêu đen Lampung của quốc gia vạn đảo này ghi nhận mức giảm nhẹ, hiện chỉ còn neo ở ngưỡng 7.051 USD/tấn. Song song với đó, giá tiêu trắng Muntok cũng chịu áp lực điều chỉnh tương tự, đẩy mức giao dịch rơi xuống mốc 9.100 USD/tấn.
Không nằm ngoài xu hướng tiêu cực, sàn giao dịch tại khu vực Nam Mỹ cũng chính thức thủng nền giá cũ. Tại Brazil, giá hạt tiêu đen dòng ASTA 570 xuất khẩu sau nhiều phiên kiên trì bám trụ mốc tâm lý cũ thì hôm nay đã đột ngột giảm sâu, lùi về neo ở mức 5.950 USD/tấn.
Trái ngược với đà giảm của các đối thủ, thị trường Malaysia vẫn thể hiện bản lĩnh kiên cường khi bảo toàn thành công vị thế bình ổn ở vùng đỉnh, với giá tiêu đen Kuching ASTA đứng yên tại 9.350 USD/tấn và tiêu trắng Malaysia ASTA giữ chắc ngưỡng 12.250 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá các mặt hàng hồ tiêu xuất khẩu trên sàn quốc tế tiếp tục là điểm sáng khi kiên định giữ thế đi ngang khi dòng tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l tiếp tục ghi nhận ổn định ở mốc 6.100 USD/tấn, loại tiêu đen 550 g/l neo vững tại mức 6.200 USD/tấn, và tiêu trắng dòng ASTA duy trì đứng yên chắc chắn tại ngưỡng 9.000 USD/tấn.
Sự sụt giảm đồng loạt của cả Indonesia và Brazil trong khi Việt Nam bất động phản ánh thế giằng co căng thẳng về nguồn cung cung ứng vĩ mô giữa các cường quốc xuất khẩu trong phiên giao dịch giữa tuần.
Cập nhật thông tin hồ tiêu
Theo báo cáo vừa được công bố mới đây của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), tính chung trong năm 2025, tổng khối lượng nhập khẩu hồ tiêu của hệ thống các quốc gia thuộc khu vực Trung Đông đã cán mốc 45.198 tấn. Con số này hiện đang chiếm tỷ trọng 18,3% trong tổng sản lượng hồ tiêu xuất khẩu toàn cầu của Việt Nam, đồng thời đánh dấu mức tăng trưởng 3,3% khi đối chiếu với số liệu của năm 2024.
Bước sang giai đoạn 4 tháng đầu năm 2026, hoạt động nhập khẩu hồ tiêu của toàn khu vực này đã đạt tổng cộng 13.668 tấn, ghi nhận mức bứt phá mạnh mẽ lên tới 30,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Mặc dù có mức tăng trưởng ấn tượng về khối lượng sản lượng, song tỷ trọng đóng góp của khu vực này trong tổng cơ cấu xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam lại chứng kiến nhịp sụt giảm xuống chỉ còn chiếm 14,0%.
Một điểm rất đáng chú ý là lực cầu nhập khẩu từ thị trường này đã liên tục tăng tốc mạnh mẽ trong chuỗi hai tháng gần đây. Cụ thể, khối lượng thu mua trong tháng 3/2026 đạt 3.432 tấn, đạt mức tăng 88,6% so với thời điểm tháng 2, và bước sang tháng 4 tiếp tục leo cao lên ngưỡng 5.607 tấn, tăng thêm 63,4% so với quy mô của tháng 3/2026. Diễn biến dịch chuyển tích cực này là minh chứng cho thấy hoạt động vận tải hàng hải vào khu vực Trung Đông, đặc biệt là luồng tiếp cận các cảng vùng Vịnh như Iraq, Kuwait, Bahrain, UAE, Saudi Arabia và Qatar, hiện đã từng bước được khơi thông và kết nối trở lại.
Mặc dù vậy, do thực tế tình hình an ninh tại khu vực này vẫn luôn tiềm ẩn hàng loạt rủi ro địa chính trị nên biểu cước vận tải biển cùng với các khoản phụ phí tổn thất liên quan tiếp tục duy trì ở các khung giá rất cao. Để đưa hàng hóa tiếp cận sâu vào khu vực vùng Vịnh, phần lớn các tuyến hải trình hiện nay đều buộc phải chọn phương án trung chuyển qua hạ tầng cảng Khor Fakkan (UAE) – một vị trí chiến lược nằm ngoài rìa eo biển Hormuz, sau đó mới tiếp tục phân phối vào sâu trong nội địa hoặc điều tiết đến các cảng biển thành viên bằng hàng loạt phương thức vận tải bổ trợ khác. Do tính chất đặc thù về yếu tố an toàn và các lệnh hạn chế trong việc định vị hành trình hành trình nên các công tác vận tải tiếp theo thường ít khi được công bố chi tiết; tuy nhiên, xét về tổng thể thì luồng hàng hóa thương mại vẫn tìm được con đường tiếp cận vào các nước vùng Vịnh.
Ở chiều ngược lại, riêng thị trường nội địa Iran hiện tại vẫn phải đối mặt với trạng thái khó khăn vô cùng nghiêm trọng khi hầu hết hệ thống cảng biển của nước này vẫn hoàn toàn tê liệt, chưa thể tiếp nhận các đội tàu quốc tế do chịu tác động nặng nề từ các lệnh hạn chế và phong tỏa bao vây. Bên cạnh đó, tuyến hành lang vận tải đường bộ xuyên qua quốc gia Pakistan hiện cũng bị đánh giá là không khả thi do vướng các quy định cấm trung chuyển; trong khi đó phương án điều hướng vận tải thông qua Thổ Nhĩ Kỳ tuy có thể triển khai thực hiện nhưng lại gặp rào cản lớn về quãng đường di chuyển quá xa cùng gánh nặng chi phí logistics cực kỳ đắt đỏ.
Đối với các lô hàng xuất khẩu xuất phát từ Việt Nam được định tuyến đi qua cảng trung chuyển chiến lược Jebel Ali, bài toán phức tạp nhất ở thời điểm hiện tại không xuất phát từ việc hàng hóa bị ách tắc cục bộ tại cảng, mà nằm ở thực trạng một số lô hàng đang gặp tình trạng chậm trễ hoặc bị mắc kẹt ngay trên biển hoặc tại các trạm cảng trung chuyển trước khi có thể chính thức cập bến UAE.
Nhìn chung, phần lớn các đơn vị hãng tàu vĩ mô đã cơ bản hoàn thành công tác xử lý và từng bước khôi phục lại lịch trình di chuyển cố định. Dẫu vậy, trên thị trường vẫn còn xuất hiện một vài chuyến tàu bắt buộc phải thực hiện điều chỉnh thay đổi lộ trình hoặc chủ động thiết lập phương án tạm thời tránh xa phạm vi khu vực Vịnh Ba Tư do lo ngại các rủi ro an ninh trực diện, hệ quả là dẫn đến việc chậm trễ trong công tác giao hàng và kéo dài đáng kể thời gian luân chuyển đối với một số container hàng hóa xuất khẩu sang thị trường khu vực này.