1900 636 909

info@hct.vn

Tổng quan về thị trường Dầu mỏ
Hàng hóa dầu thô

TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG DẦU MỎ THẾ GIỚI
Dầu mỏ hay dầu thô là một chất lỏng sánh đặc màu nau hoặc ngả lục. Dầu mở tồn tại trong các lớp đất đá tại một số nơi trong vỏ Trái đất, ở môi trường giàu Hydrocarbon. . Hiện nay dầu mỏ chủ yếu dùng để sản xuất dầu hỏi, dầu diezen và xăng nhiên liệu. Ngoài ra, dầu mỏ cũng là nguồn nguyên liệu chủ yếu để sản xuất ra các sản phẩm của nghành hóa dầu như dung môi, phân bón hóa học, nhựa, thuốc trừ sâu, nhựa đường…
Khoảng 88% dầu thô dung để sản xuất nhiên liệu, 12% còn lại dung cho hóa dầu. Do dầu thô là nguồn năng lượng không tái tạo nên nhiều người lo ngại về khả năng cạn kiệt dầu trong một tương lai không xa.
Dầu mỏ chủ yếu được thu hồi bằng khoan 1 lỗ dài vào trái đất với 1 dàn khoan dầu, một ông thép được đặt trong các lỗ để cung cấp cấu trúc chắc chắn cho giếng mới khoan. Sau đó các lỗ được tạo ra ở đế giếng để giúp dầu đi vào giếng khoan.
Dầu thô có giá trị vì nó tác động đến mọi khía cạnh của nền kinh tế toàn cầu. Ngoài việc được tinh chế để sản xuất các sản phẩm hàng ngày như xăng, dầu và vô số sản phẩm khác, dầu còn là thành phần chính trong công đoạn sản xuát ra: Nhựa, Sợi dệt tổng hợp, Phân bón, Máy vi tính, Mỹ phẩm, Thép.. Mặt khác nó là nguồn năng lượng không thể tái tạo, chính nguồn cung hạn hẹp này đã làm cho nó trở thành một nguồn tài nguyên hữu hạn và có giá trị.
Mặc dù Dầu thô được giao dịch với quy mô toàn cầu, nhưng phần lớn lượng Dầu thô thực sự được tập trung giao dịch xung quanh một số khu vực chính. Dầu thô ở mỗi vùng có đặc điểm tương đối khác nhau, cụ thể liên quan về độ nhớt (nhẹ so với nặng) và hàm lượng lưu huỳnh (ngọt so với chua).Mỗi khu vực giao dịch chính đã theiét lập các tiêu chuẩn để theo dõi biến động giá trong các mặt hàng dầu như sau:
– West Texas Intermediate (WTI): Là một loại Dầu thô ngọt nhẹ, có trọng lực khoảng 40 trên thang đo Trọng lực của Viện dầu khí Hoa Kỳ (API) và có hàm lượng Lưu huỳnh thấp.
– Dầu thô Brent: là một loại dầu thô ngọt nhẹ từ vùng Biển Bắc. Trọng lực của nó tương tự như WTI, nhưng hàm lượng lưu huỳnh của nó cao hơn một chút. Nếu nhìn dưới góc độ đầu tư Dầu thô, thì chất lượng của Brent y hệt như WTI.
– Dubai Crude, còn được gọi là Fateh, thì đậm đặc hơn (nặng hơn) so với cả WTI và Brent và có hàm lượng lưu huỳnh cao hơn, làm cho nó trở thành một loại dầu thô có tính chua. Fateh chiếm tỷ trọng lớn trong các mặt hàng giao dịch dầu và cũng được xem như là một thước đo chuẩn cho việc vận chuyển Dầu thô tại các chuyến hàng ở Trung Đông.
– OPEC Reference Basket là mức trung bình có trọng số của hỗn hợp các loại Dầu thô được sản xuất trong khu vực OPEC và chúng còn nặng hơn cả WTI và Brent cộng lại.
– Bonny Light là một loại dầu thô ngọt nhẹ từ Nigeria và được xem là phong vũ biểu cho giá dầu châu Phi. Đặc tính của nó tương tự như WTI và Brent, và trên thực tế, nhu cầu về Bonny Light chủ yếu được thúc đẩy bởi các nhà máy lọc dầu châu Âu và Mỹ.
– Urals là một loại Dầu thô nặng trong ngành xuất khẩu dầu của Nga.
Những quốc gia sản xuất dầu lớn nhất thế giới
STT Tên nước ĐVT Sản lượng
1 Mỹ Thùng/ngày 12.000.000
2 Nga Thùng/ngày 11.200.000
3 Ả rập Xê út Thùng/ngày 11.113.710
4 Iraq Thùng/ngày 4,451,516
5 Iran Thùng/ngày 3.990.956
6 Trung Quốc Thùng/ngày 3.980.650
7 Canada Thùng/ngày 3.662.694
8 Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Thùng/ngày 3.1106.077
9 Kuwait Thùng/ngày 2.923.825
10 Brazil Thùng/ngày 2.515.459

Những quốc gia có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới

STT Tên nước ĐVT Sản lượng
1 Ả rập Saudi Tỷ thùng 264,5
2 Venezuela Tỷ thùng 211,1
3 Iran Tỷ thùng 150, 31
4 Iraq Tỷ thùng 115
5 Canada Tỷ thùng 100
6 Kuwait Tỷ thùng 104
7 Các tiểu vương quốc Ảrập thống nhất (UAE) Tỷ thùng 97,8
8 Nga Tỷ thùng 60
9 Libya Tỷ thùng 41,46
10 Nigeria Tỷ thùng 36,2
Chi phí để sản xuất dầu của các quốc gia

Các yếu tố ảnh hưởng đến giá dầu
– Sự kiểm soát giá của các tổ chức xuất khẩu dầu mỏ: Đó là Mỹ và OPEC
– Tình hình bất ổn ở khu vực Trung Đông – Bắc Phi, nơi có trữ lượng dầu mỏ lớn của thế giới
– Nhu cầu dầu mỏ của thế giới ngày càng tăng, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi
– Sự phát triển của các nguồn năng lượng mới thay thế
– Sự tác động của các nhân tố tài chính
– Cácyếu tố khác
Lịch sử giá dầu trên thị trường và những toan tính của những ông lớn
Giá dầu tăng – giảm luôn ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình phát triển, giá cả hàng hóa, an ninh xã hội của bất cứ quốc gia nào
Giai đoạn từ năm 1948 – 1971: Giai đoạn này chứng kiến sự ổn định của giá dầu, giá dầu tăng từ 2,5$ năm 1948 lên 3$ năm 1957 và ổn định ở mức 3$ / thùng đến năm 1971.
Giai đoạn từ năm 1972 – 1981: Đây là giai đoạn bất ổn của giá dầu, cuộc chiến The Yom Kippur War ngày 05/10/1973 do Syria và Ai Cập tấn công vào Israel, cuộc cách mạng hồi giáo ở Iran và việc Iraq tấn công Iran là nguyên nhân chủ yếu của sự tăng cao kỷ lục của giá dầu sau chiến tranh thế giới thứ 2
– Giai đoạn từ năm 1972 – 1974: Giá dầu tăng gấp 4 lần từ mưc 3$ năm 1972 lên mức 12$ năm 1974. Cuộc chiến The Yom Kippur War bắt đầu bằng một cuộc tấn công vào Israel bởi Syria và Ai cập vào ngày 05/10/1973 đã làm cho tình hình thế giới bất ổn, giá dầu leo thang một cách nhanh chóng
– Giai đoạn từ 1975 – 1978: Giá dầu thế giới không biến động nhiều, dao động từ mức 12,21$ – 13,55$. Khi tính cả lạm phát thì giá dầu thế giới trong giai đoạn này giảm nhẹ
– Giai đoạn 1979 – 1981: Các sự kiện xảy ra ở Iran và Iraq năm 1979 – 1980 đã dẫn tới một chu kỳ tăng giá tiếp theo của giá dầu. Cuộc cách mạng hồi giao ở Iran từ 11/1978 – 6/1979 đã gây nên tổn thất khoảng 2 – 2,5 triệu thùng / ngày và cuộc tấn công của Iraq vào Iran đã làm sản lượng của 2 nước chỉ còn 1 triệu thùng / ngày (trước đó sản lượng của 2 nước rơi vào khoảng 7,5 triệu thùng / ngày). Điều này đã làm sản lượng dầu thế giới thấp hơn 10% so với năm 1979. Cuộc cách mạng hồi giáo ở Iran và chiến tranh Iraq – Iran làm cho giá dầu tăng từ 14$ năm 1979 lên mức 35$ / thùng vào năm 1981
– Giai đoạn 1981 – 1998: Giai đoạn này gắn liền với sự can thiệp của OPEC vào giá dầu. Giá dầu tăng cao trong giai đoạn 1979 – 1981 đã khiến sản lượng bên ngoài OPEC tăng mạnh. Từ năm 1980 – 1986, sản lượng các nhà cung cáp ngoài OPEC tăng 10 triệu thùng / ngày. OPEC đã phải đối mặt với nhu càu giảm xuống và cung cao hơn từ các nguồn ngoài tổ chức này.
+ Từ năm 1982 – 1986: OPEC cố gắng đặt hạn mức sản xuát đủ thấp để bình ổn giá. Những nỗ lực này đã gặp thất bại liên tiếp khi rất nhiều thành viên của OPEC sản xuất vượt quá hạn mức. Trong suốt khoảng thời gian này, Ả rập xê út đại diện như là nhà sản xuất cơ động nhất có thể cắt giảm sản lượng nhằm nỗ lực cản sự xuống dốc của giá dầu
Vào tháng 8/1985, Ả rập xê út đã từ bỏ vai trò này. Họ gắn giá dầu với thị trường giao ngay và tăng sản lượng từ 2 triệu thùng / ngày lên 5 triệu thùng / ngày vào đầu năm 1986. Giữa năm 1986, giá dầu giảm xuống dưới mức 15$ / thùng
+ Từ năm 1987 – 1998: Giá dầu giảm từ mức 18$ / thùng vào năm 1987 xuống mức dưới 15$ / thùng vào đầu năm 1988. Sau đó giá dầu tăng mạnh từ năm 1988 và đạt mức trên 20$ / thùng vào năm 1990 do OPEX duy trì mức sản lượng thấp
Sự bất ổn gắn với cuộc tấn công Iraq vào Kuwait và cuộc chiến vùng vịnh giải phóng Kuwait, giá dầu bước vào giai đoạn giảm giá liên tục và ở mức gần 15$ / thùng năm 1994 và đạt mức 12$ / thùng năm 1998
– Giai đoạn 1999 – 2003: Giá dầu lại tăng lại vào năm 1999 khi OPEC thực hiện việc cắt giảm sản lượng, điều này khiến giá dầu tăng lên 25$ / thùng và đạt mức 35$ vào tháng 10/2000 khi nền kinh tế Mỹ cũng như thế giới tăng trưởng.
Vào năm 2001, nền kinh tế Mỹ yếu đi và sự gia tăng sản lượng của các nước ngoài OPEC đã gây và cuộc khủng bố ngày 11/9/2001 đã áp lực giảm giá dầu. Tuy OPEC đã liên tiếp cắt giảm sản lượng nhưng vẫn không ngăn được đà giảm của giá dầu
Sang năm 2002, với việc các nước ngoài OPEC cũng tham gia vào việc cắt giảm sản lượng (trong đó có Nga cam kết mức cắt giảm là 462.500 thùng / ngày) đã mang lại kết quả khả quan khi mà giá dầu đã tăng lên mưucs 25$ / thùng vào tháng 3 năm 2002. Tuy vào giữa năm, các nước ngoài OPEC đã khôi phục lại mức sản lượng đã cắt giảm nhưng vẫn không ngăn được đà tăng của giá dầu.
– Giai đoạn từ năm 2004 – 2019
Nhu cầu tiêu thụ dầu của thế giới giai đoạn này rất lớn (trên 80 triệu thùng / ngày ) là nguyên nhân chính dẫn tới việc giá dầu tăng mạnh. Một vài yếu tố quan trọng khác dẫn tới sự gia tăng lên của giá dầu đó là sự suy yếu của đồng USD và sự phát triển liên tục, nhanh chóng của các nền kinh tế châu á đi liền với sự tiêu thụ dầu của các quốc gia này
Các trận bão nhiệt đới năm 2005 đã gây nên tổn thất cho hệ thống lọc dầu của Mỹ và các nước khác, công với việc sử dụng hỗn hợp Ete, Butila và Metal sang sử dụng công nghệ ethanol cũng đóng góp vào sự tăng giá của dầu
Sự đột biến giá dầu thế giới đã đạt mốc lịch sự 147,27$ / thùng vào ngày 11/7/2008
Tác động của giá dầu đến nền kinh tế thế giới
Cơn sốc giá dầu thường có tác động giống nhau tới các nền kinh tế: Làm giảm tốc độ phát triển kinh tế và thậm trí dẫn tới sự suy thoái khi mà sản lượng nên kinh tế tăng trưởng âm; làm tăng tỷ lệ lạm phát. Các hành động kìm hãm giá dầu của các nước nhập khẩu như tăng thuế tiêu thụ dầu sẽ làm lợi cho các nhà sản xuất dầu lớn hơn là cho chính phủ các nước này
Theo tính toán của nhiều tổ chức thì nếu dầu tăng đều đặn trong một năm khoảng 10% sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng của Mỹ và G7 khoảng 0,3-0,4% trong năm đó

TIN NỔI BẬT

PHÂN TÍCH MỚI NHẤT

Đăng nhập to leave a comment

Bài liên quan

Tổng quan thị trường Ngô thế giới
Đầu tư Ngô – Cơ hội vàng cho các Nhà đầu tư Việt Nam

Hotline: 1900 636 909